Get Adobe Flash player
Trang chính Lược Sử


Lời Mở Đầu - II. Giai đoạn Hội Thánh trưởng thành và phát triển

Chỉ mục bài viết
Lời Mở Đầu
I. Giai đoạn sơ khai - hình thành
II. Giai đoạn Hội Thánh trưởng thành và phát triển
III. Giai đoạn sau năm 1975
VI. Giai đoạn ổn định
Tất cả các trang

II. GIAI ĐOẠN HỘI THÁNH TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Năm 1939-1952: Trong thời gian nầy Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm (Paul Richardson) được Chúa trọng dụng hầu việc Chúa tại Đà Lạt và ông cũng là thành viên trong Ban Trị Sự Tổng Liên Hội (chức vụ Tư Hóa). Ông bà Mục Sư Duy Cách Lâm đã bán gia sản ở An Điềm, Quảng Nam, đồng thời đem nhiều tín đồ từ Quảng Nam đến Đà Lạt. Lúc bấy giờ, dầu chiến tranh hăm dọa, nền tài chánh eo hẹp, song tôi tớ Chúa và Hội Thánh đã lấy đức tin cầu nguyện và ông Mục Sư đã nhờ ông Cacasset, kiến trúc sư, họa kiểu nhà thờ Gothic cho Hội Thánh Đà Lạt. Vào năm 1942, Chúa đã cho phép Hội Thánh xây cất được một ngôi nhà thờ bằng gạch trang nghiêm cổ kính trên ngọn đồi xinh đẹp, mặc dù phải xây trong vòng 3 năm mới xong. Nhưng ngôi nhà thờ ấy hiện vẫn còn đến ngày nay.

Trong thời gian 13 năm này, có các Ông Bà Giáo Sĩ H. A. Jackson, H. S. Dutton và Jean Funé hiệp lực cùng Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm đồng công xây dựng nhà Chúa. Các giáo sĩ lên nghỉ mát thăm con ở Villa Alliance đến giảng cho Hội Thánh Đà Lạt khi có dịp tiện. Nhờ đó, tín đồ khá thông thạo Kinh Thánh.

Dầu trải bao phen binh lửa gớm ghê, thời cuộc thay đổi, tín đồ tản cư bi thảm, gia đình Ông Bà Mục Sư gặp thử thách bộn bề, song tạ ơn Chúa, Hội Thánh vẫn còn nguyên. Thời gian trôi qua, tín đồ lần lượt hồi cư, tín hữu khắp nơi đến Đà Lạt sinh sống, số tín đồ mới gia tăng, nền tài chánh phục hồi sung mãn. Ban Thanh Niên được thành lập. Hội Thánh chẳng những tự trị tự lập lại còn mạnh mẽ ủng hộ cho công việc truyền giáo. Trong thời gian này, nguyện vọng của Hội Thánh là xây cất được các nhà thờ tại Trại Hầm, Finôm và Laba.

Năm 1953 đến 1955: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Huỳnh Kim Luyện từ Hải Phòng đến. Nhưng vì không được hợp khí hậu nên ông bị đau bao tử liên tiếp.

Năm 1955-1957: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm trở lại hầu việc Chúa và Ông Bà hiệp chung với Hội Thánh xây cất một tư thất có lầu rộng rãi, đẹp đẽ còn đến ngày nay. Cụ Mục Sư Duy Cách Lâm an nghỉ Nước Chúa vào ngày 20-8-1964 tại Đà Lạt.

Năm 1957-1966: Ông Bà Mục Sư Nguyễn Văn Nhung đến Hội Thánh Đà Lạt tiếp tục hầu việc Chúa. Trong thời gian này, nhà thờ được tu bổ, phòng nhóm được nới rộng. Hội Thánh có thêm các sinh hoạt của lớp tuổi Thiếu Niên và Nhi Đồng mạnh mẽ, cộng với sinh hoạt của sinh viên Tin Lành.

Năm 1966-1970: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Huỳnh Tiên đến hầu việc Chúa vào ngày 2-10-1966. Hội Thánh vui vẻ hiệp một, xây cất phòng nhóm thanh niên, trường học Thiên Ân, mua xe hơi Land Rover cho công tác Truyền Đạo Sâu Rộng của Hội Thánh.

Năm 1970-1974: Ngày 28-6-1970, Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Nguyễn Lĩnh từ Ban Mê Thuột đến. Trong thời gian này Hội Thánh đã phải trùng tu nhà thờ bị hư hại vì chiến tranh và đã mở được trường học Thiên Ân do hội World Vision bảo trợ và cũng mở được Hội Thánh nhánh tại Chi Lăng vào ngày 5-9-1971. Hội Thánh Chi Lăng đã có cơ sở và có Truyền Đạo sinh Nguyễn Ngọc Thanh quản nhiệm, sau đó có thêm một số tín đồ mới. Nguyện vọng của Hội Thánh lúc bấy giờ là tái lập công việc Chúa tại Laba, mở mang ở Finôm (Quảng Hiệp) và mở thêm một hội nhánh ở khu vực Truyền Giáo (Đa Lợi). Hội Thánh Đà Lạt bấy giờ đã trải qua 10 vị chủ tọa Hội Thánh, tổng số tín đồ là 783 người (trong đó chánh thức là 338 người).

Năm 1974 -1975: Hội Thánh Đà Lạt mời Ông Bà Mục Sư Lê Khắc Tuyển đến Đà Lạt hầu việc Chúa. Nhưng chỉ trong thời gian ngắn vài tháng, sau đó vì thời cuộc chiến tranh ông bà và gia đình đã phải tản cư năm 1975 và tiếp tục hầu việc Chúa tại Hội Thánh Bảo Lộc.


(Phần lớn bài viết trên đây được trích trong bài của Mục Sư Nguyễn Lĩnh, đăng trong Tập Kỷ Yếu năm 1972 của Địa Hạt Nam Trung Phần; và có bổ sung thêm ý của các Cụ cao niên trong Hội Thánh Đà Lạt).