Get Adobe Flash player
Trang chính Lược Sử


Lời Mở Đầu - I. Giai đoạn sơ khai - hình thành

Chỉ mục bài viết
Lời Mở Đầu
I. Giai đoạn sơ khai - hình thành
II. Giai đoạn Hội Thánh trưởng thành và phát triển
III. Giai đoạn sau năm 1975
VI. Giai đoạn ổn định
Tất cả các trang

I. GIAI ĐOẠN SƠ KHAI - HÌNH THÀNH HỘI THÁNH

Thành phố Đà Lạt tọa lạc trên cao nguyên Lang Biang, thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, cao hơn mặt biển khoảng 1.150 mét. Đây là nơi được Đấng Tạo Hóa ban cho có phong cảnh đồi núi xinh đẹp, có hồ nước trong xanh, có rừng cây xanh tươi, thông reo vi vút, thuận lợi cho nhiều loại bông hoa đua nở bốn mùa. Khí hậu Đà Lạt thật mát mẻ, dễ chịu, là nơi nghỉ mát lý tưởng cho nhiều khách du lịch đến từ mọi miền đất nước cũng như du khách nước ngoài.

Đức Chúa Trời yêu thương đồng bào Việt Nam tứ xứ đã đến đây lập nghiệp, nên mùa Xuân 1929, Ngài sai Ông Bà Giáo sĩ Jackson cùng Ông Bà Mục Sư Lê Văn Quế đến Đà Lạt mướn nhà ở đường Minh Mạng, hiệp chung cầu nguyện, truyền ơn cứu rỗi cho đồng bào. Tiếng chuông Tin Lành từ đó vang dội giữa núi đỏ rừng xanh. Hội Thánh Đà Lạt được thành lập từ mùa Xuân năm 1929, tính đến nay (2009) đã được 80 năm. Nơi nhóm họp thờ phượng và học Lời Chúa đầu tiên ở mé dốc đi tắt từ đường Ba tháng Hai (Duy Tân cũ) xuống đường Phan Đình Phùng, đối ngang khách sạn Cẩm Đô (nay gọi là Dốc Nhà Làng hay đường Nguyễn Biểu).

Năm 1930, Ông Bà Mục Sư Trần Vô Tư đến giảng một thời gian rồi trở về Nam. Năm 1932-1934, Ông Bà Mục Sư Nguyễn Văn Tầm đến giảng, được nhiều người tin Chúa, trong số các tín hữu đầu tiên có Cụ Hường Đinh Văn Hai. Cụ Hai dầu mới tin Chúa song hết lòng trung tín, hưởng lương hưu Nhà Nước, đi lo việc Chúa Ba Ngôi. Chính tay Cụ tự đánh xe ngựa, hiệp chung với Ông Mục Sư Nguyễn Văn Tầm đi làm chứng đạo các nơi từ thành thị cho đến miền thôn quê hẻo lánh. Danh Chúa Giê-xu được truyền rao đây đó.

Năm 1934-1936 có Ông Bà Mục Sư Trịnh An Mẹo được Đức Thánh Linh xức dầu đến thi hành chức vụ cách khiêm nhường và trung tín, kính Chúa yêu người, nên số tín hữu càng ngày càng gia tăng, nền tài chánh rộng rãi, Hội Thánh được tiến bộ. Anh em tín hữu hiệp lực xây dựng được một nhà vách ván lợp tole. Hội Thánh Đà Lạt được tự trị từ đây.
Năm 1936-1939 Ông Bà Mục Sư Phan Đình Liệu đến hầu việc Chúa hiệp với Ông Bà Giáo sĩ I.R. Stebbins và Cụ Chấp sự Đinh Văn Hai đi chứng đạo khắp hương thôn (Theo lời Cụ Bà Nguyễn Để thuật lại: Ông Họa Hai vừa hớt tóc vừa làm chứng tới Suối Cát "Đờ Răn".)

Lúc ấy, Ông Bà Giáo sĩ Jackson lại từ Mỹ qua, quí vị Giáo sĩ và Ông Mục Sư Phan Đình Liệu thường đi giảng bố đạo bằng xe hơi và thăm viếng tín hữu. Ông Mục Sư Phan Đình Liệu tổ chức Ban Chứng Đạo lưu hành bằng xe đạp. Mỗi ngày Chúa Nhật giảng ở Hội Thánh, qua ngày thứ hai bắt đầu xuống Trại Mát giảng tại nhà Ông Bà Giáo Huệ; đến Cầu Đất giảng tại nhà Ông Bà Cửu Nhung; tại Trạm Hành giảng tại nhà Ông Bà Xã Nẫm; Cần Rang (Đơn Dương) tại nhà Ông Bà Ba Thanh; Suối Cát tại nhà Ông Bà Tám Đạt; Lạc Lâm tại nhà Ông Bà Xu Dương; Ma Lọn tại nhà Ông Bà Xã Huân; Fi Nôm, O Gà và Đại Ninh tại nhà Ông Bà Tống Nguyên; Cộ Gia tại nhà Ông Bà Xu Khán; La Ba tại nhà Ông Bà Phạm Văn Tạo; Trại Giài tại nhà Ông Bà Bộ Hoành. Đức Chúa Trời có dùng dịp nầy để mở cửa các Hội nhánh như Cầu Đất, Trạm Hành, Cần Rang và La Ba.