Get Adobe Flash player
Trang chính Lược Sử


Lời Mở Đầu

Chỉ mục bài viết
Lời Mở Đầu
I. Giai đoạn sơ khai - hình thành
II. Giai đoạn Hội Thánh trưởng thành và phát triển
III. Giai đoạn sau năm 1975
VI. Giai đoạn ổn định
Tất cả các trang

LỜI MỞ ĐẦU

"Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giêhôva!
Mọi điều gì ở trong ta,
Hãy ca tụng danh thánh của Ngài."

Thi Thiên 103:1

Kính thưa quý vị

Người xưa có câu "Ôn cố tri tân."

Thật lấy làm phải để nhớ lại: Hội thánh Tin lành Việt Nam Chi hội Đà Lạt 80 tuổi (1929-2009). Thời gian của một đời người, đủ để con dân Chúa ôn lại những năm đã đi qua, nhiều biến cố thăng trầm… có những lúc dường như ngã quỵ… nhưng nhờ cánh tay mạnh sức, đầy quyền năng của Đức Chúa Trời nâng đỡ. Chi hội Đà Lạt không những tồn tại mà còn sống động và tăng trưởng trên cả số lượng và tâm linh.

Đồng với Thi thiên 103:1, chúng ta dâng lên Chúa lời cảm tạ về những ơn lành Chúa đã ban cho, những ơn lành đó xin được ghi lại trong tập kỷ yếu "Kỷ niệm 80 năm thành lập Hội thánh Đà Lạt."

Thay cho Hội thánh, tôi xin gởi đến Ban biên tập, ban ấn loát kỹ thuật, những ân nhân xa gần đã dự phần công, của, trí tuệ vào tập kỷ yếu nầy lời cảm ơn chân thành.

Cầu xin Chúa ban phước dồi dào trên các quý vị.

Mấy lời chân thành xin được giới thiệu và tri ân.

Quản nhiệm Chi hội
Mục Sư Bùi Phụng

 

 


I. GIAI ĐOẠN SƠ KHAI - HÌNH THÀNH HỘI THÁNH

Thành phố Đà Lạt tọa lạc trên cao nguyên Lang Biang, thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, cao hơn mặt biển khoảng 1.150 mét. Đây là nơi được Đấng Tạo Hóa ban cho có phong cảnh đồi núi xinh đẹp, có hồ nước trong xanh, có rừng cây xanh tươi, thông reo vi vút, thuận lợi cho nhiều loại bông hoa đua nở bốn mùa. Khí hậu Đà Lạt thật mát mẻ, dễ chịu, là nơi nghỉ mát lý tưởng cho nhiều khách du lịch đến từ mọi miền đất nước cũng như du khách nước ngoài.

Đức Chúa Trời yêu thương đồng bào Việt Nam tứ xứ đã đến đây lập nghiệp, nên mùa Xuân 1929, Ngài sai Ông Bà Giáo sĩ Jackson cùng Ông Bà Mục Sư Lê Văn Quế đến Đà Lạt mướn nhà ở đường Minh Mạng, hiệp chung cầu nguyện, truyền ơn cứu rỗi cho đồng bào. Tiếng chuông Tin Lành từ đó vang dội giữa núi đỏ rừng xanh. Hội Thánh Đà Lạt được thành lập từ mùa Xuân năm 1929, tính đến nay (2009) đã được 80 năm. Nơi nhóm họp thờ phượng và học Lời Chúa đầu tiên ở mé dốc đi tắt từ đường Ba tháng Hai (Duy Tân cũ) xuống đường Phan Đình Phùng, đối ngang khách sạn Cẩm Đô (nay gọi là Dốc Nhà Làng hay đường Nguyễn Biểu).

Năm 1930, Ông Bà Mục Sư Trần Vô Tư đến giảng một thời gian rồi trở về Nam. Năm 1932-1934, Ông Bà Mục Sư Nguyễn Văn Tầm đến giảng, được nhiều người tin Chúa, trong số các tín hữu đầu tiên có Cụ Hường Đinh Văn Hai. Cụ Hai dầu mới tin Chúa song hết lòng trung tín, hưởng lương hưu Nhà Nước, đi lo việc Chúa Ba Ngôi. Chính tay Cụ tự đánh xe ngựa, hiệp chung với Ông Mục Sư Nguyễn Văn Tầm đi làm chứng đạo các nơi từ thành thị cho đến miền thôn quê hẻo lánh. Danh Chúa Giê-xu được truyền rao đây đó.

Năm 1934-1936 có Ông Bà Mục Sư Trịnh An Mẹo được Đức Thánh Linh xức dầu đến thi hành chức vụ cách khiêm nhường và trung tín, kính Chúa yêu người, nên số tín hữu càng ngày càng gia tăng, nền tài chánh rộng rãi, Hội Thánh được tiến bộ. Anh em tín hữu hiệp lực xây dựng được một nhà vách ván lợp tole. Hội Thánh Đà Lạt được tự trị từ đây.
Năm 1936-1939 Ông Bà Mục Sư Phan Đình Liệu đến hầu việc Chúa hiệp với Ông Bà Giáo sĩ I.R. Stebbins và Cụ Chấp sự Đinh Văn Hai đi chứng đạo khắp hương thôn (Theo lời Cụ Bà Nguyễn Để thuật lại: Ông Họa Hai vừa hớt tóc vừa làm chứng tới Suối Cát "Đờ Răn".)

Lúc ấy, Ông Bà Giáo sĩ Jackson lại từ Mỹ qua, quí vị Giáo sĩ và Ông Mục Sư Phan Đình Liệu thường đi giảng bố đạo bằng xe hơi và thăm viếng tín hữu. Ông Mục Sư Phan Đình Liệu tổ chức Ban Chứng Đạo lưu hành bằng xe đạp. Mỗi ngày Chúa Nhật giảng ở Hội Thánh, qua ngày thứ hai bắt đầu xuống Trại Mát giảng tại nhà Ông Bà Giáo Huệ; đến Cầu Đất giảng tại nhà Ông Bà Cửu Nhung; tại Trạm Hành giảng tại nhà Ông Bà Xã Nẫm; Cần Rang (Đơn Dương) tại nhà Ông Bà Ba Thanh; Suối Cát tại nhà Ông Bà Tám Đạt; Lạc Lâm tại nhà Ông Bà Xu Dương; Ma Lọn tại nhà Ông Bà Xã Huân; Fi Nôm, O Gà và Đại Ninh tại nhà Ông Bà Tống Nguyên; Cộ Gia tại nhà Ông Bà Xu Khán; La Ba tại nhà Ông Bà Phạm Văn Tạo; Trại Giài tại nhà Ông Bà Bộ Hoành. Đức Chúa Trời có dùng dịp nầy để mở cửa các Hội nhánh như Cầu Đất, Trạm Hành, Cần Rang và La Ba.

 


II. GIAI ĐOẠN HỘI THÁNH TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Năm 1939-1952: Trong thời gian nầy Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm (Paul Richardson) được Chúa trọng dụng hầu việc Chúa tại Đà Lạt và ông cũng là thành viên trong Ban Trị Sự Tổng Liên Hội (chức vụ Tư Hóa). Ông bà Mục Sư Duy Cách Lâm đã bán gia sản ở An Điềm, Quảng Nam, đồng thời đem nhiều tín đồ từ Quảng Nam đến Đà Lạt. Lúc bấy giờ, dầu chiến tranh hăm dọa, nền tài chánh eo hẹp, song tôi tớ Chúa và Hội Thánh đã lấy đức tin cầu nguyện và ông Mục Sư đã nhờ ông Cacasset, kiến trúc sư, họa kiểu nhà thờ Gothic cho Hội Thánh Đà Lạt. Vào năm 1942, Chúa đã cho phép Hội Thánh xây cất được một ngôi nhà thờ bằng gạch trang nghiêm cổ kính trên ngọn đồi xinh đẹp, mặc dù phải xây trong vòng 3 năm mới xong. Nhưng ngôi nhà thờ ấy hiện vẫn còn đến ngày nay.

Trong thời gian 13 năm này, có các Ông Bà Giáo Sĩ H. A. Jackson, H. S. Dutton và Jean Funé hiệp lực cùng Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm đồng công xây dựng nhà Chúa. Các giáo sĩ lên nghỉ mát thăm con ở Villa Alliance đến giảng cho Hội Thánh Đà Lạt khi có dịp tiện. Nhờ đó, tín đồ khá thông thạo Kinh Thánh.

Dầu trải bao phen binh lửa gớm ghê, thời cuộc thay đổi, tín đồ tản cư bi thảm, gia đình Ông Bà Mục Sư gặp thử thách bộn bề, song tạ ơn Chúa, Hội Thánh vẫn còn nguyên. Thời gian trôi qua, tín đồ lần lượt hồi cư, tín hữu khắp nơi đến Đà Lạt sinh sống, số tín đồ mới gia tăng, nền tài chánh phục hồi sung mãn. Ban Thanh Niên được thành lập. Hội Thánh chẳng những tự trị tự lập lại còn mạnh mẽ ủng hộ cho công việc truyền giáo. Trong thời gian này, nguyện vọng của Hội Thánh là xây cất được các nhà thờ tại Trại Hầm, Finôm và Laba.

Năm 1953 đến 1955: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Huỳnh Kim Luyện từ Hải Phòng đến. Nhưng vì không được hợp khí hậu nên ông bị đau bao tử liên tiếp.

Năm 1955-1957: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Duy Cách Lâm trở lại hầu việc Chúa và Ông Bà hiệp chung với Hội Thánh xây cất một tư thất có lầu rộng rãi, đẹp đẽ còn đến ngày nay. Cụ Mục Sư Duy Cách Lâm an nghỉ Nước Chúa vào ngày 20-8-1964 tại Đà Lạt.

Năm 1957-1966: Ông Bà Mục Sư Nguyễn Văn Nhung đến Hội Thánh Đà Lạt tiếp tục hầu việc Chúa. Trong thời gian này, nhà thờ được tu bổ, phòng nhóm được nới rộng. Hội Thánh có thêm các sinh hoạt của lớp tuổi Thiếu Niên và Nhi Đồng mạnh mẽ, cộng với sinh hoạt của sinh viên Tin Lành.

Năm 1966-1970: Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Huỳnh Tiên đến hầu việc Chúa vào ngày 2-10-1966. Hội Thánh vui vẻ hiệp một, xây cất phòng nhóm thanh niên, trường học Thiên Ân, mua xe hơi Land Rover cho công tác Truyền Đạo Sâu Rộng của Hội Thánh.

Năm 1970-1974: Ngày 28-6-1970, Hội Thánh mời Ông Bà Mục Sư Nguyễn Lĩnh từ Ban Mê Thuột đến. Trong thời gian này Hội Thánh đã phải trùng tu nhà thờ bị hư hại vì chiến tranh và đã mở được trường học Thiên Ân do hội World Vision bảo trợ và cũng mở được Hội Thánh nhánh tại Chi Lăng vào ngày 5-9-1971. Hội Thánh Chi Lăng đã có cơ sở và có Truyền Đạo sinh Nguyễn Ngọc Thanh quản nhiệm, sau đó có thêm một số tín đồ mới. Nguyện vọng của Hội Thánh lúc bấy giờ là tái lập công việc Chúa tại Laba, mở mang ở Finôm (Quảng Hiệp) và mở thêm một hội nhánh ở khu vực Truyền Giáo (Đa Lợi). Hội Thánh Đà Lạt bấy giờ đã trải qua 10 vị chủ tọa Hội Thánh, tổng số tín đồ là 783 người (trong đó chánh thức là 338 người).

Năm 1974 -1975: Hội Thánh Đà Lạt mời Ông Bà Mục Sư Lê Khắc Tuyển đến Đà Lạt hầu việc Chúa. Nhưng chỉ trong thời gian ngắn vài tháng, sau đó vì thời cuộc chiến tranh ông bà và gia đình đã phải tản cư năm 1975 và tiếp tục hầu việc Chúa tại Hội Thánh Bảo Lộc.


(Phần lớn bài viết trên đây được trích trong bài của Mục Sư Nguyễn Lĩnh, đăng trong Tập Kỷ Yếu năm 1972 của Địa Hạt Nam Trung Phần; và có bổ sung thêm ý của các Cụ cao niên trong Hội Thánh Đà Lạt).

 

 


III. GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975

1975-1990: Sau ngày Giải Phóng 30-4-1975, đất nước thống nhất, sinh hoạt của Hội Thánh có nhiều thay đổi: Mục Sư Lê Khắc Tuyển chuyển về Bảo Lộc, Ông bà Truyền Đạo Nguyễn Văn Huệ từ Thần Học Viện Nha Trang chuyển đến làm Chủ Tọa mới của Hội Thánh Đà Lạt.

Công việc Chúa gặp rất nhiều khó khăn vì hoàn cảnh của đất nước những ngày mới giải phóng. Tuy nhiên Thầy Truyền Đạo Nguyễn Văn Huệ đã hết lòng chăm lo cho bầy chiên. Hội Thánh được khích lệ, giới trẻ được học Kinh Thánh, tinh thần hầu việc Chúa vẫn được nâng cao. Tạ ơn Chúa, Hội Thánh Đà Lạt dù trong cảnh thăng trầm của thời cuộc đất nước, phải trải qua nhiều khó khăn trở ngại của buổi giao thời, Chúa vẫn cho Hội Thánh được đứng vững, được duy trì và phát triển để tiếp tục thi hành mạng lệnh của Chúa mà góp phần rao giảng Tin Lành Ân Điển Cứu Rỗi cho đồng bào.

Khởi đầu, số tín hữu thưa thớt, vắng nhiều so với thời gian trước 1975. Một số lo sợ vì chính thể mới đổi thay chưa có sự thông cảm với Tin Lành, họ đã không đi nhóm lại; một số khác di tản đi nơi khác chưa trở về; một số khác vì sinh kế phải chuyển đi lao động làm ăn ở những ruộng vườn xa nhà thờ. Thì giờ nhóm sáng Chúa Nhật phải đổi thành rất sớm từ 5 giờ sáng và buổi nhóm phải kết thúc trước 7 giờ là giờ lao động của mọi người. Mặt khác cũng vì cuộc sống kinh tế khó khăn không đủ cái ăn cái mặc, một số gia đình ở xa nhà thờ cũng không đủ phương tiện xe cộ cho cả gia đình đến nhóm, lúc bấy giờ xe đạp là phương tiện giao thông tốt nhất.

Năm 1978, Thầy Truyền Đạo Nguyễn Văn Huệ đi học tập cải tạo, Ban Trị Sự bị buộc phải tự giải tán. Tín hữu lo sợ, công việc Hội Thánh tưởng chừng phải tàn lụi, không còn biết tương lai thế nào. Tuy nhiên, Chúa cũng dự liệu có các tín hữu yêu mến Chúa vẫn cứ trung tín nhóm lại thờ phượng và hầu việc Chúa, âm thầm gây dựng đời thuộc linh lẫn nhau trong Hội Thánh.

Sinh hoạt của Hội Thánh những ngày đó khởi đầu chỉ là mở cửa nhà thờ cho các tín hữu đến tự thờ phượng Chúa. Trong những năm đầu khó khăn đó, có một số tín hữu bằng lòng đứng đơn xin chính quyền cho phép một số người luân phiên để hướng dẫn các giờ thờ phượng Chúa. Trong đó có các tín hữu như cụ Hồ Nghi, cụ Nguyễn Để đã đứng ra bảo lãnh cho Hội Thánh được nhóm lại. Các sinh hoạt cầu nguyện, hát thánh ca, học Kinh Thánh … đều là tự động kể như không ai hướng dẫn ai. Tuy nhiên vẫn có những tín hữu tình nguyện luân phiên nhau âm thầm lo mọi sự.

Thành viên BTS cũ và một số tín hữu có lòng quan tâm công việc Chúa như ông Trần Thế Huệ, ông Đinh Văn Cẩn, ông Hồ Phước... đã dành thì giờ thăm viếng gây dựng các con cái Chúa, tín hữu tự thăm viếng gây dựng lẫn nhau. Ông Nguyễn Văn Nghi, ông Châu Văn Nghiêm giúp đỡ công ăn việc làm cho các con cái Chúa, khích lệ sự hầu việc Chúa. Nhờ đó, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần được hồi phục.

Vì chưa được chính quyền mới hoàn toàn tin tưởng, các sinh hoạt của thanh thiếu niên, nhi đồng trong Hội Thánh không được phép tiếp tục. Nhưng vì đây là sinh hoạt tự nhiên và có cần của một Hội Thánh sống động, nên lần hồi các em vẫn nhóm lại dưới sự tình nguyện hướng dẫn của một số anh chị trưởng thành trong Hội Thánh. Sinh hoạt của lớp người trẻ trong Hội Thánh được tái lập, đời thuộc linh của họ được nuôi dưỡng đã cậy ơn Chúa đem lại sức sống cho Hội Thánh và duy trì cho đến ngày nay.

Năm 1982, Thầy TĐ Nguyễn Văn Huệ học tập trở về nhưng vẫn không được phép giảng cho Hội Thánh một thời gian dài, chỉ đi làm chứng đạo âm thầm, thăm viếng khích lệ các con cái Chúa. Tuy vậy, Chúa ban cho có kết quả nhiều người tin nhận Chúa thêm vào Hội Thánh. Sau đó, thỉnh thoảng Thầy có giảng cho Hội Thánh những Chúa Nhật đầu tháng, và lần hồi có thêm các buổi giảng dạy cho Hội Thánh, xen kẽ những phần hướng dẫn học Kinh Thánh của các tín hữu trước nay vẫn phụ trách  khi khuyết chủ tọa.

Thời gian nầy, chính quyền cho Hội Thánh có hai người chính thức lo mở cửa, đóng cửa nhà thờ để giáo dân tự hành lễ đó là Ông Đinh Văn Cẩn và Ông Nguyễn Trấn. Năm 1990, vì điều kiện khó khăn không thể thường xuyên giảng dạy cho Hội Thánh, Thầy TĐ Nguyễn Văn Huệ đã xin chuyển cả gia đình về Quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh sinh sống và hầu việc Chúa. Hội Thánh Đà Lạt lại tiếp tục trong tình trạng không có chủ tọa. Trải một thời gian dài, các ông có trách nhiệm xin chính quyền cho Mục Sư nơi khác đến chủ tọa Hội Thánh nhưng không được vì người ngoài tỉnh Lâm Đồng chưa được phép thuyên chuyển.


IV. GIAI ĐOẠN TÁI ỔN ĐỊNH

Kể từ năm 1993, BTS Hội Thánh mới được chính quyền chính thức công nhận gồm có ba người: Ông Nguyễn Văn Nghi, Ông Ông Văn Chuân và Cô TĐ Huỳnh Bửu Cơ. Ban Trị Sự được thường xuyên hướng dẫn các buổi thờ phượng sáng Chúa Nhật của Hội Thánh, phần học Lời Chúa do năm tín hữu trong Hội Thánh luân phiên lo (ông Lê Thành An, ông Dương Phú Thành, ông Lê Thành Chung, cô Ông Thị Chuyên, ông Trần Văn Đềm). Trong thời gian nầy, BTS Hội Thánh vẫn xúc tiến việc làm đơn, ngỏ ý xin phép cho có Mục Sư đến chủ tọa Hội Thánh nhưng cũng chưa được. Đây là nguyện vọng của Hội Thánh trong nhiều năm qua nhưng chương trình của Chúa chưa cho phép. Các tín hữu trong Hội Thánh phải học bài học chờ đợi và vâng phục ý Chúa, dù thật là khó khăn nhưng ý Chúa được nên.

Cảm tạ ơn Chúa trải qua mấy mươi năm đầy những khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt, nhưng về phương diện thuộc linh, Đức Chúa Trời vẫn là Đấng Chăn Dắt Hội Thánh. Đặc biệt hoàn cảnh của Hội Thánh Đà Lạt dù thiếu vị chủ tọa, nhưng Chúa vẫn từng hồi từng lúc dùng nhiều cách để nuôi Hội Thánh. Tín hữu vẫn trung tín nhóm lại thờ phượng và hầu việc Chúa. Thêm vào đó có một số đông tân tín hữu được lần hồi lớn lên, trưởng thành làm cho số người thường xuyên nhóm lại trong Hội Thánh gia tăng. Năm 1995, BTS quyết định xây sửa lại hàng rào cho cảnh quan nhà thờ được khang trang và xây thêm phòng nhóm phụ ở phía sau tư thất có sức chứa khoảng 200 người. Hàng năm, Hội Thánh tổ chức lớp Thánh Kinh Hè cho khoảng 160 em Thiếu Niên Nhi Đồng. Mỗi dịp Lễ Giáng Sinh, Hội Thánh phải che thêm rạp mà vẫn không đủ chỗ ngồi cho tín hữu vì có nhiều tín hữu người dân tộc từ trong các làng mạc xa xôi ra dự lễ.

Năm 2000, khi Hội Thánh kỷ niệm 90 năm Tin Lành đến Việt Nam (71 năm Tin Lành đến Đà Lạt), tín hữu nhóm lại thường xuyên mỗi Chúa Nhật khoảng 400 người. Số tín hữu trong Hội Thánh có phần tăng trưởng vì hàng năm có thêm người mới tin Chúa. Tôi tớ Chúa là Mục Sư Lưu Tự An, Quản nhiệm Hội Thánh Trạm Hành thường đến Đà Lạt cử hành Lễ Báp Têm cho các tân tín hữu. Trong tuần, có các buổi nhóm học Kinh Thánh và cầu nguyện của các lớp tuổi. Cảm tạ ơn Chúa.

Ngày 20-03-2005, gần 30 năm sau ngày Giải phóng, với sự nhất trí của Chính quyền địa phương, Hội Thánh Đà Lạt chính thức có vị Mục Sư Quản Nhiệm được Hội Thánh công khai mời đến, đó là Ông Bà Mục Sư Bùi Phụng nguyên quản nhiệm Hội Thánh Liên Nghĩa Đức Trọng. Từ đây, khi đã có Quản Nhiệm, mọi sinh hoạt của Hội Thánh từng bước đi vào ổn định hơn. Hội Thánh có Ban Chấp Sự – Ban Trị Sự được phân công phụ trách các ban ngành chịu trách nhiệm cho các lĩnh vực sinh hoạt trong Hội Thánh.

Lễ Kỷ Niệm 80 Năm Tin Lành đến Lâm Đồng được Ban Đại Diện Tỉnh tổ chức long trọng tại HTTL Đà Lạt  (27-08-2009) với chủ đề "Gieo Giống Tin Lành" đã nhắc nhở toàn thể Hội Thánh nhà tạ ơn Chúa về vinh dự được tiếp bước vào cánh đồng đã vàng sẵn cho Mùa Gặt, cậy ơn Chúa không nghỉ tay, sẵn sàng tiếp lấy công lao của các thánh đồ đang hưởng mão triều thiên vinh hiển.

Tạ ơn Chúa về những chặng đường đã qua, Hội Thánh Tin Lành Đà Lạt nay đang hướng về tương lai, cầu xin Chúa đồng công với tôi tớ, con cái Chúa để công việc rao giảng Tin Lành và gây dựng Hội Thánh được ngày càng tăng trưởng và có kết quả, khích lệ nhau thêm lòng sốt sắng làm trọn mạng lệnh của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã ủy thác cho mỗi con dân Chúa trong Hội Thánh.